Viêm xương khớp và điều trị viêm xương khớp

17-10-2013

Thuật ngữ “bệnh viêm khớp” không chỉ là “một bệnh” mà có trên 100 loại bệnh viêm khớp khác nhau. Nó là bệnh rất phổ biến, số lượng người mắc bệnh chỉ đứng hàng thứ hai sau bệnh tim mạch.
Viêm xương khớp là hình thức viêm khớp thông thường nhất, đặc biệt là ở người lớn tuổi. Viêm xương khớp là “bệnh khớp xương” gây ra do sự hư hỏng sụn – sụn là tế bào đàn hồi đệm cho xương ở giữa 2 khớp xương. Sụn khỏe mạnh làm cho xương có thể hoạt động nhịp nhàng với nhau.

 

 Viêm khớp (arthritis) có 2 loại: osteoarthritis (OA) "bệnh khớp thoái biến" và rheumatoid arthritis (RA) "khớp viêm phong thấp". Dù do nguyên nhân khác nhau, cả hai đều gây đau đớn, khó cử động tại các khớp xương bị viêm.  

Từ tuổi 50 trở lên “bệnh viêm khớp” tăng theo tuổi: 27% ở tuổi 60-70; 45% vào tuổi 80, gây tổn thương cho nhiều khớp, nhất là ở đốt cuối ngón tay, ngón chân, cổ tay, đầu gối, thắt lưng. Đôi khi bệnh lan tới các cơ quan như tim, thận, phổi, dây thần kinh và gây ra triệu chứng tổng quát như: nóng sốt, mệt mỏi, biếng ăn, thiếu hồng huyết cầu, sụt cân… 

Sụn cá mập (Bell Shark Cartilage 750mg) của Canada giúp: hỗ trợ làm giảm các chứng đau do viêm khớp, sưng khớp; Tái tạo sụn khớp đã bị phá huỷ, duy trì sự lành mạnh của sụn khớp; Dự phòng và hỗ trợ điều trị các bệnh : phong thấp, viêm khớp, thấp khớp, thoái hoá khớp, gai xương, thoát vị đĩa đệm, rối loạn tự miễn, thoái hoá võng mạc…  Thành phần chính là: Chondroitin và Glucosamine. 

 viem khop viem khop


Triệu chứng viêm khớp:

Các dấu hiệu và triệu chứng viêm xương khớp bao gồm:

-        Đau khớp (thường là đau nhiều) khi cử động đau nhiều hơn và nghỉ ngơi thì bớt (trong trường hợp nặng có thể đau liên tục)

-        Cảm thấy cứng khớp vào buổi sáng hoặc sau khi bất động hơn 15 phút

-        Sưng khớp

-        Sờ chỗ khớp thấy ấm

-        Nghe rào rào hay lục cục khi khớp chuyển động

-        Tầm cử động bị hạn chế

-        Bắp thịt yếu

-        Những nốt xương bất bình thường mọc lên gần khớp làm cho khớp biến dạng (chẳng hạn nốt Heberden, bướu xuất hiện ở khớp ngón tay ngoài cùng).

Nguồn gốc bệnh viêm xương khớp:

Viêm xương khớp cũng được gọi là bệnh thoái hóa khớp vì tình trạng này bao gồm sự phá hủy lớp sụn bảo vệ khớp. Mặc dù có những dấu hiệu cảnh báo về bệnh viêm xương khớp, nhưng người ta chưa biết rõ điều gì gây ra sự hủy hoại và mất sụn. Trong một ít trường hợp, viêm khớp xảy ra do sự nứt, hoặc do sự bất bình thường cơ học như chi dưới dài không đều, những bệnh xương khớp khác như bệnh gút hoặc sự rối loạn nội tiết hoặc chuyển hóa có thể gây viêm xương khớp.

Các nguy cơ viêm xương khớp:

Những yếu tố nguy cơ viêm xương khớp gồm có:

-        Lớn tuổi

-        Yếu tố di truyền

-        Béo phì

-        Vết thương ở khớp

-        Có tiền sử viêm khớp

-        Rối loạn chuyển hóa hay rối loạn hormon (hemochromatosis và acromegaly)

-        Rối loạn xương và khớp khi sinh

-        Khớp làm việc căng thẳng ở một số hoạt động như chơi bóng chày, khiêu vũ, và công việc xây dựng

-           Tích tụ các hoạt chất (dịch chất lỏng) ở khớp như xảy ra ở bệnh gút. 

Chẩn đoán viêm xương khớp:

Người ta không thể chẩn đoán viêm xương khớp với một xét nghiệm duy nhất mà phải bằng nhiều phương pháp để loại trừ khả năng gây ra của một số nguyên do khác.

  • Tiền sử bệnh án – bác sĩ đánh giá triệu chứng bằng cách hỏi khi nào triệu chứng bắt đầu, biến chuyển ra sao, khớp nào bị đau và trước đây ảnh hưởng ra sao. Bác sĩ sẽ hỏi về các tình trạng thể trạng khác nhau vì chúng có thể góp phần tạo ra triệu chứng viêm khớp, những thuốc đang uống cũng có thể tương tác với các loại thuốc bác sĩ có ý định kê đơn, do đó cũng phải được xem xét.
  • Khám nghiệm vật lý – các khớp bị viêm sẽ được xem xét tình trạng sưng đỏ, tiếng kêu lụp cụp khi xương cọ vào nhau do thiếu sụn, sự hiện diện của chất lỏng (các dịch bất thường) trong khớp, sức mạnh và tầm vực chuyển động của khớp.
  • X-quang để chẩn đoán sự mất sụn (được thấy khi khoảng cách khớp nhỏ lại), tình trạng xương bị gai hay mòn.
  • Thử máu được tiến hành để tìm những dấu hiệu viêm tổng quát để loại trừ khả năng gây ra do những bệnh khác như thấp khớp hay Lyme’s disease, và để kiểm tra sự có mặt của các chất đánh dấu bệnh việm khớp như axít hyaluronic, một chất tạo ra sự bôi trơn cho khớp nhưng bị hư hỏng do bệnh viêm khớp.
  • Hút dịch ở khớp – Chất dịch nếu có sẽ được hút để đánh giá bằng cách dùng kim và syringe; thông thường đối với bệnh viêm khớp sẽ không có đủ lượng chất lỏng trong khớp để hút; vì thế đánh giá chất lỏng có thể tiết lộ nguyên nhân khác của bệnh viêm khớp như bệnh gút hay tình trạng nhiễm trùng.

Phòng ngừa

  giam canthe duc

Những biện pháp sau có thể làm giảm thiểu nguy cơ phát triển viêm khớp xương:

-        Không để cho khớp đang bị thương thiệt hại thêm

-        Tập thể dục

-        Giảm cân

-        Tránh vận động lặp đi lặp lại quá mức

-        Tập thể dục:

Tập thể dục để làm tăng cường sức mạnh, kéo dài và thư giãn bắp thịt quanh chỗ viêm khớp luôn được đưa vào trong chương trình trị liệu. Nhiều cuộc nghiên cứu đã củng cố giá trị của việc tập thể dục đối với người bị viêm khớp. Như cuộc nghiên cứu mới đây thấy rằng người tham gia chương trình tập thể dục ở nhà giảm đau được 23% so với những người không tập chỉ giảm đau được 6 %. Những cuộc nghiên cứu khác cũng nói rằng ngoài làm giảm đau và giảm nguy cơ tật nguyền thể dục còn tăng cường sức mạnh, tầm vực cử động, sự cân bằng, tính phối hợp, sức chịu đựng và cải thiện tư thế.

Thức ăn bổ sung và cách chữa trị thiên nhiên

vitamine bo sung dinh duong

Glucosamine và Chondroitin

Glucosamine và chondroitin là những hợp chất tự nhiên trong sụn. Để bổ sung, những chất  này được lấy từ sụn bò và bê, cá mập. Những chất này đã được dùng ở Âu Châu hơn một thập niên và mới đây cũng phổ biến ở Mỹ. Hai chất này cho thấy có thể ức chế viêm trong phòng thí nghiệm. Để đánh giá tác dụng lâu dài và tính chất bổ dưỡng của những chất này Trung Tâm Quốc Gia Thuốc Bổ Sung và Dược Liệu Thay Thế (NIH) đã tài trợ một chương trình so sánh lâm sàng hai hợp chất glucosamine, chondroitin và tổng hợp hai chất với giả dược. Cuộc nghiên cứu hoàn tất vào tháng ba 2005.

Nhiều thử nghiệm lâm sàng dùng glucosamine và condroitin để điều trị viêm khớp kết luận rằng những chất này có một số lợi ích:

Glucosamine được dùng bằng cách uống hoặc tiêm vào khớp hay bắp thịt. Hình thức hay được sử dụng nhất là dạng glucosamine sulfate, nó có tính năng:

-        Giảm đau hiệu quả hơn giả dược hay NSAIDs (đặc biệt là ibuprofen)

-        Thời gian bắt đầu tác dụng chậm hơn ibuprofen nhưng tác dụng giảm đau kéo dài lâu hơn.

-        Có ít tác dụng phụ hơn là ibuprofen

-        Làm giảm đau hiệu quả hơn cải thiện tầm cử động tốt hơn giả dược và NSAID piroxicam

-        Cải thiện triệu chứng lâu dài hơn so với piroxicam

-        Mặc dù những cuộc nghiên cứu này có kết quả tích cực, nhưng chưa có nghiên cứu về tính an toàn lâu dài. Một cuộc nghiên cứu 212 bệnh nhân bị viêm khớp dùng glucosamine và giả dược trong 3 năm, những người trong nhóm dùng glucosamine giảm được 25% triệu chứng, cải thiện khoảng cách khớp nói rằng thuốc bổ sung còn làm chậm tiến trình của bệnh. Nhóm dùng glucosamine cũng không bị tác dụng ngược như trong nhóm dùng giả dược.

-        Một vài chuyên gia cho rằng một dạng khác của glucosamine là glucosamine hydrochloride còn có thể được cơ thể hấp thu nhanh hơn glucosamine sulfate. Hầu hết các cuộc nghiên cứu tới nay chỉ tiến hành đối với glucasamine sulfate nên dạng thuốc trên đang được đề nghị sử dụng cho bệnh nhân viêm khớp.

Chondroitin cũng được sử dụng bằng cách uống hay tiêm vào chỗ viêm hoặc bắp thịt. Người ta thấy nó có các kết quả sau trong thử nghiệm lâm sàng:

-        Giảm được nhu cầu dùng NSAIDS và những loại thuốc giảm đau khác

-        Giảm đau (đôi khi hiệu quả hơn thuốc y khoa kinh điển (conventional); tác dụng kéo dài tới 3 tháng sau khi đã không còn sử dụng chondroitin.

-        Tăng khả năng cử động

-        Giảm viêm

-        Giảm chất dịch trong khớp

-        Tăng tốc độ bước

-        Làm giảm tiến trình bệnh

Mặc dù glucosamine và chondroitin  được nghiên cứu riêng rẽ, bằng chứng cho thấy sử dụng đồng thời hai chất này có thể là cách trị liệu an toàn và hiệu quả đối với bệnh viêm khớp. Như đã đề cập ở trên, một cuộc nghiên cứu do NIH tài trợ so sánh glucosamine, chondroitin và tổng hợp hai chất trên đối với giả dược cũng được nghiên cứu và chấm dứt vào tháng ba 2005.

Vitamin D rất quan trọng đối với xương và sụn. Các cuộc nghiên cứu đánh giá vitamin D đối với bệnh viêm khớp như sau:

Vitamin D phòng ngừa thoái hóa sụn

Thiếu hấp thu vitamin có thể dẫn tới nguy cơ viêm khớp hông ở phụ nữ có tuổi và các biến đổi khớp (có thể thấyđược trên hình chụp x-quang) ở đàn ông và phụ nữ

Chất chống oxy hóa

Chất chống oxy hóa giảm được sự oxy hóa và viêm gây ra bởi gốc tự do và vì thế làm chậm quá trình viêm khớp. Gốc tự do có thể sinh ra trong khớp và gây ra thoái hóa trong cơ thể những người lớn tuổi, bao gồm sự hủy hoại sụn và các tế bào liên quan. Chất chống oxy hóa giúp cân bằng các thiệt hại gây ra bởi hoạt động của gốc tự do. Mặc dù cần phải có thêm bằng chứng củng cố quan điểm này, một số nghiên cứu trên người cho thấy những chất chống oxy hóa sau có thể làm giảm triệu chứng viêm khớp:

Vitamin A và beta-crotene

Vitamin C

Vitamin E

Ngoài ra, những cuộc nghiên cứu về vitamin E cho thấy người mắc viêm khớp thấy giảm đau rõ rệt sau khi uống 600 mg vitamin E mỗi ngày so với người chỉ nhận giả dược. Những người uống 600 mg vitamin E ba lần mỗi ngày thấy giảm đau nhiều hơn người uống NSAID diclofenac.

Trong một cuộc nghiên cứu sơ bộ, 72 bệnh nhân viêm khớp được chọn một cách ngẫu nhiên uống niacinamide, một dạng vitamin B3, và giả dược. Nhóm uống niacinamide thấy giảm được 30% triệu chứng trong khi ngược lại có 10% người trong nhóm dùng giả dược cho biết còn cảm thấy tình trạng tệ hơn. Cụ thể những người dùng niacinamide cho biết:

Khả năng cử động khớp cải thiện

Giảm được nhu cầu dùng thuốc kháng viêm

Tác giả các cuộc nghiên cứu suy luận rằng niciamide có thể giúp tái tạo sụn và cho rằng có thể dùng NSAIDs một cách an toàn để giảm viêm. Cần phải nghiên cứu thêm nữa để có thể hiểu được niacinamide tác dụng có lợi như thế nào đối với người bị viêm khớp và có thể sử dụng cho tất cả đối tượng mắc phải tình trạng này hay không. Một điều cần lưu ý là niacinamide phải được sử dụng 3 tuần mới thấy được kết quả như trên. Các chuyên gia còn cho rằng dùng dài hạn (từ 1 tới 3 năm) có thể làm chậm tiến trình của bệnh.

Các loại axít béo Omega-3

omega 3  Omega-3

Các loại axít béo Omega-3 tìm thấy ở các loại cá nước lạnh như cá hồi, cá trích và cá thu và ở hạt lanh, hạt rapeseed (canola), hạt cây óc chó. Nghiên cứu về việc sử dụng axít béo omega-3 bổ sung đối với tình trạng viêm khớp thường tập trung vào viêm xương thấp. Dựa vào các nghiên cứu ở phòng thí nghiệm, các nhà nghiên cứu cho rằng chế độ ăn giàu axít omega-3 (và ít axít béo omega-6) có thể có lợi cho người bị rối loạn viêm như trong trường hợp viêm xương. Thực vậy, nhiều cuộc nghiên cứu ở phòng thí nghiệm về tế bào sụn thấy rằng axít béo omega-3 giảm viêm và giảm đươc hoạt tính của các enzyme phân hủy tế bào sụn.

Một nguồn axít béo tiềm năng khác là loài trai môi xanh (Perna canaliculus), loài này được người dân Maori sử dụng như một thực phẩm bổ dưỡng. Một cuộc thử nghiệm 38 người bị viêm khớp sử dụng nước trích loài trai Perna canalicus thì có gần 40% thấy được kết quả sau:

Giảm cứng và đau khớp

Tăng trương lực nắm

Tăng khả năng linh hoạt và cải thiện tốc độ đi đứng nhanh nhẹn hơn

Nhưng một con số khác cũng thể hiện có khoảng 10% người tham dự thí nghiệm cảm thấy tệ hơn khi lần đầu tiên sử dụng chất bổ sung này. Cho nên, tốt hơn nên dùng trích ly mỡ P. canaliculus hơn là dùng chất bột vì có ít nguy cơ bị dị ứng. Những người bị dị ứng đồ biển nên tránh dùng P.canalicus.

Mangan:

Mangan là một trong những chất cơ thể dùng để tạo thành sụn. Trong một cuộc thử nghiệm lâm sàng nghiên cứu glucosamine, choindroitin, và mangan, 72 người bị viêm khớp gối từ nhẹ tới trung bình đã có sự cải thiện rõ rệt sau khi dùng chất bổ sung tổng hợp nói trên so với những người dùng giả dược. Không có tác dụng phụ nào. Những người bị nặng hơn không có kết quả khi dung chất tổng hợp trên. Mặc dù có nhiều nghiên cứu kết luận rằng mức mangan thấp có thể tạo ra tình trạng thoái hóa khớp và tổn thương xương nhưng người ta không chỉ rõ ra được vai trò của mangan như thế nào đối với kết quả vừa trên. Một điều thú vị là chừng 37 % người Mỹ có chế độ ăn uống ít mangan.

Những chất bổ sung khác:

Theo giai thoại và những cuộc nghiên cứu sơ bộ, những chất bổ sung khác có tiềm năng giảm nhẹ viêm khớp là:  

Dứa 

Dứa Bromelain (Ananas comosus) – tốt hơn NSAID về phương diện giảm đau

Nguyên tố Bo – những cuộc nghiên cứu sơ bộ trên người và các loài vật thí nghiệm cho rằng chất này có thể làm giảm sự  xuất hiện các triệu chứng viêm khớp

Sản phẩm thủy phân da – có thể kích thích tế bào tạo ra collagen, tuy nhiên lý thuyết trên còn đang đươc thử nghiệm.

Những bài thuốc dùng cây cỏ

Thảo dược là những bài thuốc người viêm khớp thích sử dụng. Có bằng chứng khoa học cho thấy những chất sau rất có công hiệu chữa trị viêm khớp:

cay tam ma nghe

Cây móng quỉ (Harpagophytum procumbens)

Vỏ cây liễu (Salix spp.)

Cây tầm ma (Urtica dioica)

Tổng hợp các loại: câydương lá rung (Populus tremula), cây tần bì (Fraxinus excelsior) và goldenrod (Solidabo viraurea)

Tổng hợp các loại cây họ đỗ quyên (Ayurvedic) chứa trích ly ashwagandha (Withania somnifera), boswellia (Boswellia serrata) và nghệ (Curcuma longa)

Tổng hợp vỏ cây dương liễu (Salixspp.), black cohosh (Cimicifuga racemosa), thổ phục linh (Smilax spp.), nhựa gaiad (Guaiacum officinale), và vỏ cây dương (Populus tremuloides)

Một số cây hứa hẹn công dụng chữa trị viêm khớp còn có:

Ớt Capsaicin (Capsicum frutescens)

Capsaicin là chất chủ yếu chứa trong ớt (ớt cayenne).  Người ta tin rằng đắp lên da sẽ làm tan chất gây sưng và đau ở người bị viêm khớp. Một số nghiên cứu thấy rằng kem capsaicin làm giảm đau tốt hơn giả dược nhưng không có kết quả đối với sưng khớp, hoặc tăng cường trương lực hay cải thiện chức năng cho người viêm khớp. Đau sẽ giảm sau từ 3 tới 7 ngày đắp kem capsaicin lên da.

Trích ly trái bơ và đậu nành

Các cuộc nghiên cứu trong phòng thí nghiệm thấy rằng trích ly trái bơ hay đậu nành có thể kích thích sinh trưởng collagen (protein chủ yếu ở da, gân, sụn và xương) ở tế bào sụn. Trong một cuộc nghiên cứu, 164 người bị viêm đầu gối, hông được cho uống trích ly rái bơ hay đậu nành trong vòng 6 tháng. Những bệnh nhân này cảm thấy thuyên giảm và không bị hoặc bị ít hiệu ứng phụ:

Giảm đau

cham cuu  gung

Cây móng mèo  (Uncaria tomentosa)

Nghiên cứu thấy 45 người bị viêm khớp đầu gối sử dụng cây móng mèo giảm đau đầu gối so với người dùng giả dược.

Gừng (Zingiber officinale)

Trích ly gừng từ lâu đã được sử dụng trong các bài thuốc truyền thống để làm giảm sưng. Tuy nhiên có rất ít báo cáo về lợi ích của gừng trong y văn về chữa trị viêm khớp, một cuộc nghiên cứu mới đây thấy rằng loại cây này cũng không có hiệu quả hơn gì ibuprofen hay giả dược khi chữa trị viêm khớp.

Tiêu (Piper methysticum)

Tiêu từ lâu đã được dùng như một loại giảm đau nhưng có rất ít nghiên cứu đánh giá tác dụng này của tiêu. Nghiên cứu trên các loài vật thí nghiệm cho thấy tiêu có tác dụng giảm đau. Đối với người có thể có tác dụng.

Châm cứu
Nhiều cuộc thử nghiệm cho thấy châm cứu có tác dụng trị liệu tốt đối với cơn đau do viêm khớp, kể cả cải thiện chức năng khớp, khả năng đi lại. Một số nghiên cứu thấy châm cứu giúp giảm đau và cải thiện các chức năng hoạt động khới cho người bị viêm khớp tốt hơn là dùng NSAID (các loại giảm đau và kháng viêm). Đơn cử một nhóm nghiên cứu gồm 29 người đang chờ phẫu thuật do viêm khớp gối được châm cứu đã cải thiện rõ rệt khả năng lên cầu thang và tốc độ đi bộ so với người không được châm cứu.

(ST)

Các tin tức khác